Eurozone Crisis

Điều gì thực sự là nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng?


Khu vực đồng tiền chung châu Âu đang rơi vào một thời điểm tồi tệ và u ám nhất kể từ khi Hiệp định chung thành lập liên minh tiền tệ này ra đời. Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha và gần đây là Italia đang bị cuốn vào vực xoáy của cuộc khủng hoảng nợ công ngày một lan rộng. Các trụ cột của khu vực như Đức, Pháp, Bỉ… đang tỏ ra mệt mỏi dù đã hết sức nhẫn nại trong nỗ lực cứu vớt khu vực đồng tiền chung Euro khỏi nguy cơ đổ vỡ.

Đến lúc này khi lật lại xem xét vấn đề, những người trong cuộc, các chính trị gia, những nhà phân tích, các nhà kinh tế cố gắng đi tìm câu trả lời cho câu hỏi mà họ vẫn đang tranh cãi nhau kịch liệt: Điều gì thực sự đã gây ra cuộc khủng hoảng nợ công tồi tệ tại khu vực đồng tiền chung châu Âu trong hiện tại?

Để minh họa cho tính đa dạng của những quan điểm và như điểm bắt đầu cho bài viết này chúng ta sẽ xem xét hai nhận định khác biệt điển hình của những quan chức cấp cao phụ trách kinh tế tại châu Âu về nguyên nhân đã gây ra khủng hoảng:

Đầu tiên là ý kiến của Wolfgang Schäuble, Bộ trưởng Tài chính Đức trong một bài viết gần đây được đăng tải trên tờ Financial Times:
“ Dù cho thị trường có đóng vai trò tác nhân thế nào đến cuộc khủng hoảng nợ công thì có một sự thật không phải bàn cãi là việc chi tiêu quá mức của Chính phủ đã dẫn đến tình trạng nợ nần và thâm hụt ngân sách mà hiện đang đe dọa tới những phúc lợi kinh tế của chúng ta.”

Và đây là một trích dẫn khác từ tuyên bố gần đây của phó Thủ tướng kiêm Bộ trưởng Tài chính Hy Lạp, Evangelos Venizelos:
“ Chúng ta không nên là người chịu trận hoặc chấp nhận lời bào chữa giản đơn được đưa ra bởi những định chế tài chính châu Âu và quốc tế để che giấu đi sự thiếu năng lực của họ trong việc kiểm soát cuộc khủng hoảng cũng như sự chậm trễ đưa ra câu trả lời đầy đủ, dứt khoát trước những cuộc tấn công tiền tệ vào đồng euro, đồng tiền mạnh nhất thế giới.”

Hai trích dẫn trên cho thấy sự khác biệt cơ bản về quan điểm liên quan đến nguồn gốc gây ra cuộc khủng hoảng nợ công tại khu vực đồng tiền chung châu Âu. Vậy ý kiến nào là đúng?

Nguyên nhân cục bộ (Local Causes) hay nguyên nhân hệ thống (Systemic Causes)?

Nhiều người trong số đó có cả Bộ trưởng Tài chính Đức Schauble tin rằng cuộc khủng hoảng hiện nay về cơ bản gây ra bởi sự chi tiêu phung phí, vô trách nhiệm của Chính phủ và các cá nhân tại các quốc gia “ngoại vi” trong khu vực đông tiền chung châu Âu EuroZone (thuật ngữ “ngoại vi” (periphery) trong bài này được dùng để ám chỉ một số quốc gia như Hy Lạp, Ireland, Bồ Đào Nha và có thể là cả Tây Ban Nha. Italy không thực sự bị phê phán vì những hành động chi tiêu như trên, và nhìn chung thì người ta có vẻ thống nhất trong quan điểm cho rằng Italia giống với nạn nhân của một cuộc khủng hoảng lan rộng hơn là nguyên nhân gây ra khủng hoảng). Ta gọi đây là “nguyên nhân cục bộ” (Local Causes) với quan điểm cho rằng: thâm hụt ngân sách và nợ của Chính phủ ở các quốc gia ngoại vi EZ tương đối lớn và khi mà cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới 2008-09 càn quét tới, làm những nhà đầu tư mất hết niềm tin vào khả năng trả nợ của những quốc gia này. Họ cố gắng bán tháo trái phiếu từ những quốc gia đó, châm ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng.

Một cách nhìn khác đó là, trong khi mầm mống của cuộc khủng hoảng có thể từ những yếu tố khởi phát mang tính cục bộ thì bên cạnh đó, lý do quan trọng hơn, phần nhiều sự hỗn loạn hiện tại là hậu quả gây ra của những lực lượng và quyết định nằm ngoài sự kiểm soát của chính phủ tại các quốc gia ngoại vi trong EZ. Hay nói cách khác thì nguyên nhân gây ra cuộc khủng hoảng này có thể mang tính phi cục bộ, đó là “nguyên nhân hệ thống”.

Để hiểu rõ hơn về nguyên nhân hệ thống chúng ta có thể phát triển giả định này:
Việc các nước EU phê chuẩn Hiệp định về sử dụng đồng tiên chung châu Âu đã tạo ra sự hấp dẫn cho những nhà đầu tư tại các quốc gia Liên minh châu Âu còn lại mua các tài sản tại những nước ngoại vi EZ ví dụ như Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Ireland. Điều này tạo ra một dòng chảy vốn lớn, dồi dào từ các quốc gia vùng lõi EZ tới các quốc gia ngoại vi, giống như việc hình thành NAFTA đã giúp tạo ra lượng vốn lớn chảy từ Mỹ tới Mexico đầu những năm 1990s. Về mặt lý thuyết đây là một điều tốt và có thể giúp đẩy nhanh quá trình tăng trưởng và hội tụ về kinh tế.
Nhưng chúng ta cũng biết rằng một “dòng vốn dồi dào” như vậy (capital flow bonanzas, đặt tên theo cách gọi trong nghiên cứu của hai nhà kinh tế Reinhart và Reinhart) sẽ rất nhạy cảm với sự thay đổi tâm lý của những nhà đầu tư, và sự thay đổi bất ngờ từ lạc quan sang bi quan có thể dẫn đến một sự ngưng trệ đột ngột. Sự ngưng trệ đột ngột (sudden stops) của dòng vốn, như đã được nhắc đến trong các nghiên cứu, là nhân tố điển hình gây ra một cuộc khủng hoảng tài chính. (Xem nghiên cứu của Calvo, Izquierdo, and Mejia để hiểu hơn về sự “ngưng trệ đột ngột”).

Bài học Mexico 1994 có thể là một tình huống minh họa rõ nét cho nhận định này.

Cuộc khủng hoảng tại Mexico năm 1994
Nền kinh tế Mexico cuối những năm 80 của thế kỷ XX là một nền kinh tế tăng trưởng khá tốt tuy có những dấu hiệu cho thấy cán cân vãng lai của Mexico đã bắt đầu thâm hụt khi mà đồng peso lên giá so với USD. Triển vọng kinh tế sáng sủa cùng với việc Mexico có thể trở cùng Mỹ, Canada thành lập khu vực Mậu dịch tự do đã khuyến khích dòng vốn đầu tư mạnh mẽ từ Mỹ, Canada sang Mexico – một thị trường mới nổi. Riêng thời gian từ 1990 đến 1993, Mexico đã thu hút được 93 tỷ Dollar đầu tư nước ngoài, chiếm một nửa tổng đầu tư nước ngoài vào Mỹ Latin. Đi kèm với dòng vốn nước ngoài đổ vào là tình trạng cán cân vãng lai thâm hụt, năm 1993, mức độ thâm hụt tương đương 6,5% tổng sản phẩm trong nước (GDP). Sự thâm hụt này chủ yếu được bù đắp bằng vay nợ ngắn hạn của nước ngoài và vẫn nằm trong tầm kiểm soát của Chính phủ Mexico.
Tuy nhiên việc NAFTA ra đời cộng với chênh lệch lãi suất tại Mexico cao hơn Mỹ đã khiến dòng vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục tràn vào Mexico, tài khoản vãng lai của Mexico vì thế tiếp tục thâm hụt. Mức độ thâm hụt cán cân vãng lai trong năm 1994 đã lên tới 8% GDP. IMF đã đưa ra lời cảnh báo tới Chính phủ Mexico về vấn đề này.
Nền kinh tế Mexico sẽ vẫn tiếp tục phát triển nếu như không có những biến cố kích hoạt ngòi nổ cho cuộc khủng hoảng. Biến động chính trị dữ dội tại Mexico trước thềm cuộc bầu cử Tổng thống năm 1994 là một cú sốc lớn với những nhà đầu tư về sự ổn định của môi trường vĩ mô. Nhu cầu với chứng khoán Mexico bắt đầu giảm sút. Bên cạnh đó, áp lực mất giá của đồng Peso ngày càng rõ ràng. Chính Phủ một mặt liên tục tung dự trữ ngoại hối ra để neo giữ tỷ giá của peso với USD đồng thời phá giá đồng peso từng bước nhỏ. Lòng tin của nhà đầu tư giảm sút. Dòng vốn vào Mexico bắt đầu chững lại.
Lãi suất trái phiếu ghi bằng đồng peso tăng lên. Vì một số lý do kinh tế và chính trị, Chính Phủ Mexico đã dùng dự trữ ngoại hối để chống lại xu hướng tăng lãi suất đồng thời tiến hành đổi các trái phiếu chính phủ từ định danh bằng peso sang định danh bằng dollar. Nhà đầu tư càng thêm lo lắng.
Tháng 10/1994, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ bày tỏ quan ngại về dự trữ ngoại hối ít ỏi của Mexico nhưng tuyên bố sẽ không can thiệp. Cũng trong tháng này, hàng loạt công ty lớn báo cáo kết quả kinh doanh không khả quan, thị trường chứng khoán Mexico chao đảo, các nhà đầu tư bắt đầu rút lui khỏi Mexico. Đồng peso đã mất giá lại càng mất giá hơn nữa.
Cuối tháng 12/1994, đồng peso mất giá mạnh, nỗ lực của NHTW Mexico dùng số dự trữ ngoại hối ít ỏi để cứu vãn như “muối bỏ bể”. Ngày 22/12/1994, Chính Phủ tuyên bố thả nổi đồng peso. Các nhà đầu tư ồ ạt tháo chạy khỏi Mexico. Đồng peso mất giá quá lớn so với USD.
Nợ nước ngoài tính bằng USD đột nhiên tăng lên đã khiến bảng cân đối tài sản của các xí nghiệp và ngân hàng của Mexico xấu đi rõ rệt. Hậu quả là nền kinh tế Mexico chính thức rơi vào khủng hoảng thực sự.

Trong nghiên cứu về nguyên nhân gây khủng hoảng tại Mexico, nhiều nhà kinh tế kỳ cựu trong đó có Rüdiger Dornbusch và Alejandro Werner đã chỉ ra nguyên nhân khủng hoảng chính là sự ngưng trệ bất ngờ của dòng vốn đầu tư nước ngoài vào Mexico: “it is not speed that kills, it is the sudden stop” (Rüdiger Dornbusch).
Điều quan trọng là, sự ngưng trệ đột ngột này có thể xảy ra thậm chí ngay cả khi một quốc gia tuân thủ tất cả các chính sách kinh tế vĩ mô một cách đúng đắn. Khủng hoảng tài chính có thể nằm ngoài tầm kiểm soát của của quốc gia tại đó khi “dòng vốn dồi dào” này bất ngờ kết thúc. Mexico 1994 như trên đã phân tích ở trên là một ví dụ tốt về điều này. Và quay trở lại vấn đề của chúng ta, có thể rằng một số quốc gia ngoại vi EZ cũng mang đầy đủ những đặc điểm ấy. Nếu vậy, sẽ là không phù hợp khi cứ đổ lỗi nguyên nhân cuộc khủng hoảng hoàn toàn cho chính phủ các nước ngoại vi EZ. Họ là nguyên nhân nhưng có cũng có thể sẽ chính xác hơn khi gọi các quốc gia này là nạn nhân của khủng hoảng.

Bằng chứng

Trong phần này chúng ta sẽ đi tìm những bằng chứng để tìm câu trả lời cho câu hỏi đã nêu ra ở đầu bài viết. Quan điểm nào về cuộc khủng hoảng tại khu vực đồng tiền chung châu Âu – cách nhìn theo nguyên nhân cục bộ (local causes) hay cách nhìn theo nguyên nhân hệ thống (systemic causes) sẽ phù hợp hơn với những bằng chứng? Chúng ta sẽ giải quyết vấn đề từ những giả định: nếu nguyên nhân nào đó đúng thì nó được thể hiện qua các chỉ báo vĩ mô đặc trưng như thế nào và ngược lại với những dữ liệu vĩ mô đó, có chứng minh một cách thuyết phục cho nguyên nhân được đưa ra hay không?

1. Bằng chứng thứ nhất: Sự thâm hụt nào gây ra khủng hoảng?

Nếu như khủng hoảng chủ yếu gây ra bởi nguyên nhân cục bộ thì dấu hiệu nhận biết hay chỉ báo tốt nhất cho khủng hoảng sẽ là mức thâm hụt ngân sách và nợ chính phủ. Mặt khác, nếu cách nhìn theo nguyên nhân hệ thống là đúng thì dấu hiệu phù hợp hơn cho cuộc khủng hoảng là sự thâm hụt lớn của cán cân tài khoản vãng lai, điều mà gần như chắc chắn sẽ xảy ra khi có một dòng vốn dồi dào chảy vào trong nước [1].
Bảng sau cho thấy cả cán cân ngân sách tài khóa và cán cân thanh toán trong suốt giai đoạn sau khi thông qua việc sử dụng đồng tiền chung euro đến trước khi khủng hoảng tài chính toàn cầu và tác động suy thoái năm 2008. Tất cả số liệu được lấy từ OECD và thể hiện qua đơn vị % GDP.

image

Yếu tố mà các quốc gia khủng hoảng gặp phải đó là các quốc gia đó đều có mức thâm hụt cán cân vãng lai lớn trong EZ suốt giai đoạn 2000-07 như Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Tây Ban Nha, Ireland. Mối quan hệ giữa thâm hụt ngân sách và khủng hoảng yếu hơn: một số quốc gia gặp khủng hoảng có mức thặng dư tài khóa trung bình giai đoạn 2000-07 khá đáng kể như Tây Ban Nha, Ireland trong khi một số quốc gia EZ với thâm hụt tài khóa (Pháp, Đức, Áo) lại không vướng vào cuộc khủng hoảng này. Đây là một phần bằng chứng cho thấy rằng không phải thâm hụt ngân sách mà chính sự tăng lên nhanh chóng của dòng vốn chảy vào quốc gia mới chính là yếu tố cơ bản gây ra cuộc khủng hoảng.

2. Bằng chứng thứ hai: Mức thâm hụt nào tăng lên sau khi đồng tiền chung euro được phê chuẩn?

Nếu cuộc khủng hoảng là do sự chi tiêu lãng phí của chính phủ các nước ngoại vi EZ (nguyên nhân cục bộ) khi họ tận dụng việc là thành viên EZ để tăng chi tiêu, chúng ta sẽ kỳ vọng nhìn thấy mức thâm hụt ngân sách tăng lên ở các nước ngoại vi EZ này sau khi đồng tiền chung được đưa ra vào năm 1999. Nhưng nếu cuộc khủng hoảng thực sự là hậu quả của việc lượng vốn nước ngoài đổ vào từ các nước vùng lõi EZ để tìm kiếm cơ hội đầu tư mà sau đó bất ngờ dừng lại (nguyên nhân hệ thống), chúng ta sẽ thấy thâm hụt cán cân vãng lai lớn hơn sau khi thông qua việc sử dụng đồng tiền chung châu Âu.
Biểu đồ sau cho thấy diễn biến của cả 2 loại thâm hụt trong suốt những năm trước và sau khi phê chuẩn đồng euro. Dữ liệu của OECD, thể hiện qua đơn vị % GDP.

imageimageimage
image

Từ biểu đồ có thể thấy, cán cân tài khóa nhìn chung đã có dấu hiệu cải thiện, thâm chí ở Tây Ban Nha hay Ireland cán cân này còn thặng dư sau năm 2006. Cán cân vãng lai thì ngược lại, với cả bốn quốc gia, luôn trong tình trạng thâm hụt nặng nề.

Điều này về cơ bản cho thấy dòng vốn nước ngoài đã tăng lên tại các quốc gia tại các quốc gia ngoại vi EZ trong giai đoạn sau khi thông qua việc sử dụng đồng euro. Trong khi đó, các quốc gia ngoại vi EZ nhìn chung có xu hướng thắt chặt chính sách tài khóa hơn sau khi chấp thuận đồng euro so với trước đó ( điều kiện tuân thủ để tham gia vào EZ).

Chú ý rằng dòng vốn dồi dào chảy vào các nước ngoại vi EZ là kết quả trực tiếp của việc chấp thuận đồng euro của các quốc gia này, điều này tạo ra sự dễ dàng hơn cho dòng vốn từ các quốc gia lõi EZ tìm kiếm cơ hội đầu tư ở các nước ngoại vi này. Thực tế, đây chính xác cũng là điểm thuận lợi của việc sử dụng đồng tiền chung. Vấn đề bất lợi ở chỗ sự “ngưng trệ đột ngột” cũng có thể theo sau một sự đổ vốn vào ồ ạt như vậy.

3. Bằng chứng thứ ba: Các nước ngoại vi EZ đã tiêu tiền vào đâu?

Nếu cuộc khủng hoảng đến từ cách hành xử thiếu trách nhiệm của các chính phủ và các cá nhân tại những nước ngoại vi EZ (nguyên nhân cục bộ) thì một chỉ báo về chi tiêu chính phủ hoặc tiêu dùng cá nhân sẽ tăng lên sau khi chấp thuận đồng tiền chung euro. Mặt khác, nếu theo quan điểm về nguyên nhân hệ thống sẽ gợi ý cho chúng ta rằng cuộc khủng hoảng có thể xảy ra ngay cả khi quốc gia đó hành xử một cách có trách nhiệm về mặt chính sách KTVM bằng việc chi tiêu nhiều hơn cho đầu tư (ví dụ: hình thành vốn tư bản sản xuất) và chi ít hơn cho tiêu dùng cá nhân.
Bảng tiếp theo cho thấy tỷ lệ của chi tiêu nội địa vào tiêu dùng và hàng hóa đầu tư ở mỗi quốc gia ngoại vi EZ. Đức có trong bảng này để làm sự so sánh.

image

Có một xu hướng rõ ràng là chi tiêu đầu tư tăng lên ở các quốc gia ngoại vi EZ (trừ Bồ Đào Nha), và chi cho tiêu dùng giảm xuống. Điều này phù hợp với lý thuyết hội tụ trong tăng trưởng kinh tế; vốn chảy vào từ các quốc gia vùng lõi EZ tới các quốc gia ngoại vi để tìm kiếm cơ hội đầu tư tại đây. Trong khi ấy, với các quốc gia ngoại vi trải qua thời kỳ thắt chặt tài khóa, có một tỷ lệ chi tiêu nhỏ hơn cho tiêu dùng cá nhân và cao hơn cho mua sắm các hàng hóa đầu tư, thật khó mà có bằng chứng cho thấy dòng vốn đổ vào các quốc gia này được sử dụng cho những cuộc “chè chén say sưa” hay tiêu xài lãng phí của các cá nhân hay chính phủ như một số nhà phân tích đã lên án.

Vậy thì điều gì thực tế đã gây ra cuộc khủng hoảng?

Xâu chuỗi lại các bằng chứng với nhau, dường như là cuộc khủng hoảng tại khu vực EZ có vẻ phù hợp với quan điểm cho rằng nguyên nhân khủng hoảng ở đây là mang tính hệ thống hơn là nguyên nhân cục bộ. Nói cách khác, bên cạnh việc Chính phủ các nước ngoại vi EZ không phải lúc nào cũng có những quyết định đúng thì vấn đề chủ yếu hơn các nước này còn phải hứng chịu tác động từ những lực lượng ngoại sinh - dòng vốn nước ngoài dồi dào đỏ vào và theo sau bởi sự ngưng trệ đột ngột – điều mà đã đẩy các nước này lâm vào cuộc khủng hoảng tài chính.

Dĩ nhiên để có thể kết luận một cách chính xác, chúng ta còn phải xem xét đến yếu tố mang tính thời kỳ là chính sách của các quốc gia này trong một giai đoạn dài. Phân tích này cho thấy một quan điểm mới về nguyên nhân cuộc khủng hoảng.

Cuộc khủng hoảng nợ công tại EZ đủ lớn để người ta dò xét, đá quả bóng trách nhiệm để đổi lỗi cho nhau và chắc chắn nhiều trong số các chỉ trích đó dành cho các quốc gia đang gặp phải khủng hoảng. Nhưng cũng phải thừa nhận rằng ngay từ khi các quốc gia này chấp thuận việc sử dụng đồng tiền chung euro thì những “thế lực ngoại sinh” mạnh mẽ (dòng vốn đầu tư nước ngoài, cuộc khủng hoảng toàn cầu, sự ngưng trệ đột ngột) dường như đã “lát” sẵn con đường cho họ đi đến cuộc khủng hoảng như hiện nay. Điều ấy có vẻ như là khó có thể tránh khỏi, dù cho chính quyền của các quốc gia này có cố gắng hết sức cải thiện tình hình. Đến đây có nhiều người sẽ bớt tranh cãi lại mà nghĩ đến khả năng: Không phải cách hành xử thiếu trách nhiệm của các nước ngoại vi EZ đã gây ra khủng hoảng tại khu vực đồng tiền chung châu Âu; mà tự bản thân đồng tiền chung euro có lẽ đã tạo mầm mống cho cuộc khủng hoảng tồi tệ ấy.
______________
Nguồn tham khảo:
Kash Mansori, Origins of the Euro Crisis, The Street Light Blog.
Wikipedia, Khủng hoảng Mexcico 1994:
Wikipedia, Sudden Stop (Economics):

[1] Có thể giải thích điều này thông qua đẳng thức trong Kinh tế học quốc tế: CA = S – I, luồng vốn vào sẽ làm tăng I trong khi S có xu hướng ổn định hoặc giảm xuống khi người dân tăng chi tiêu do kỳ vọng vào mức thu nhập thường xuyên cao và ổn định trong tương lai.

Không có nhận xét nào:

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
BACK TO TOP