Quản lý nhập khẩu qua công cụ thuế quan tại Việt Nam (3)

Tiếp theo bài (2)


Tác động của chính sách thuế nhập khẩu đến công tác quản lý nhập khẩu có thể đánh giá qua việc trả lời ba câu hỏi:
i. Thuế nhập khẩu tác động thế nào tới các loại hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu vào Việt Nam (giá trị và loại hàng hóa, dịch vụ nhập khẩu)?
ii. Mức độ bảo hộ đối với các ngành sản xuất trong nước thay đổi như thế nào khi thuế suất thay đổi?
iii. Nguồn thu của Chính Phủ từ thuế nhập khẩu thay đổi ra sao?

Giá trị và cơ cấu mặt hàng nhập khẩu
Việc thực hiện chính sách thuế suất cắt giảm phục vụ cho cam kết gia nhập WTO đã góp phần chủ yếu tạo ra mức gia tăng nhập khẩu và nhập siêu trong những năm vừa qua. Nhập khẩu chủ yếu tập trung vào các mặt hàng nguyên nhiên vật liệu và máy móc phục vụ sản xuất trong nước và xuất khẩu. Tuy nhiên, tỷ trọng hàng tiêu dùng trong tổng kim ngạch nhập khẩu hàng hóa đã tăng từ khoảng 7,7% giai đoạn 2001-2006 lên 8,1%, khoảng 8,8% năm 2008 và khoảng 9% trong năm 2009. Hơn nữa, trong khi nguyên liệu sản xuất có xu hướng giảm mạnh trong giai đoạn khủng hoảng kinh tế toàn cầu (từ giữa năm 2008) thì kim ngạch nhập khẩu hàng tiêu dùng lại có xu hướng tăng.
Chính sách giảm thuế nhập khẩu theo cam kết hội nhập cũng góp phần tạo cơ hội cho nhiều loại hình dịch vụ xuất hiện tại thị trường Việt Nam. Nhập khẩu tất cả các ngành dịch vụ đều tăng trong năm đầu gia nhập WTO, trong đó tăng cao nhất là bưu chính – viễn thông (50%), tiếp đó là bảo hiểm (31,3%), vận tải hàng hải (19,0%), vận tải hàng không (17,1%), du lịch (16,2%) và dịch vụ tài chính (11,1%). Các năm sau có giảm chủ yếu vì tình hình kinh tế thế giới khủng hoảng ảnh hưởng tiêu cực tới kinh tế Việt Nam.
Tháng 3 năm 2011, Bộ Tài chính đã đưa ra danh mục 297 nhóm hàng (3.724 dòng thuế) không khuyến khích nhập khẩu tập trung chủ yếu vào các nhóm mặt hàng tiêu dùng, các thiết bị điện dân dụng, các phương tiện đi lại. Bộ Tài chính đã xem xét các dòng thuế của các mặt hàng trong danh mục có mức thuế suất hiện hành thấp hơn mức cam kết WTO 2011 từ 4 % trở lên (169 dòng thuế) và quyết định chỉ điều chỉnh tăng khoảng 10% thuế suất với 11 dòng thuế. Quyết định này nhằm hạn chế việc nhập khẩu các mặt hàng mà doanh nghiệp trong nước có thể sản xuất và cạnh tranh, khuyến khích thay đổi cơ cấu nhập khẩu theo hướng hợp lý.

Mức độ bảo hộ cho các ngành sản xuất trong nước
Trước thời điểm gia nhập WTO, bình quân các ngành có mức bảo hộ thực tế ở mức khoảng 30%, việc cắt giảm thuế theo cam kết WTO sẽ giảm mức độ bảo hộ chung này xuống chỉ còn khoảng 15%, giảm đi 50%. Mức độ chênh lệch về bảo hộ giữa các ngành sẽ thu hẹp đáng kể- những ngành hiện đang được bảo hộ cao sẽ chịu nhiều ảnh hưởng. Nhiều nghiên cứu đã chỉ ra mức độ bảo hộ thực tế của Việt Nam đã giảm nhanh sau 3 năm gia nhập WTO. Xét về các nhóm ngành, có thể thấy nhóm ngành công nghiệp chế tạo có tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu giảm nhanh nhất từ 40% trong năm 2005 xuống còn 2,1% trong năm 2009. Nhóm ngành này dường như không có sức cạnh tranh nên việc hệ số bảo hộ cao hay thấp hầu như không có ý nghĩa (hình 1).
Hình 1: Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP) và tỷ lệ bảo hộ danh nghĩa (NRP) của ngành CN chế tạo trước và sau khi gia nhập WTO
Công thức tính chỉ số ERP:

Tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu (ERP) là tiêu chí để đánh giá mức độ bảo hộ mậu dịch đối với các nhà sản xuất trong nước. ERP là tỷ lệ giữa phần chênh lệch của giá trị gia tăng tính theo giá trong nước với giá thế giới (có tính đến tự do hóa thương mại). Phần chênh lệch này có được nhờ cơ cấu thuế của từng quốc gia. Công thức tính ERP như sau :
ERP = (V* - V)/V
trong đó V* là giá trị gia tăng tính theo giá trong nước ; V là giá trị gia tăng tính theo giá thế giới.


Với nhóm ngành nông lâm thủy sản, tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu giảm từ 7,4% trong năm 2005 xuống 0,52% trong năm 2009. Có lẽ ở Việt Nam chỉ có duy nhất nhóm ngành này là có thể cạnh tranh, mà tỷ lệ bảo hộ hữu hiệu giảm là một thiệt thòi cho Việt Nam. Xem thêm bài viết này.
Mặc dù mức độ bảo hộ thực tế có giảm nhưng điều này sẽ thúc đẩy các ngành nâng cao khả năng cạnh tranh để phát triển, tránh tình trạng “hiệu ứng ngược” khi các ngành sản xuất lệ thuộc vào chính sách bảo hộ mà không có động lực cạnh tranh. Nhìn tổng thể thì sự suy giảm hiệu quả bảo hộ này không quá bất thường và ở khía cạnh tích cực tỷ lệ bảo hộ giảm sẽ tạo áp lực cho nền sản xuất phải hoạt động có hiệu quả hơn.

Nguồn thu Ngân sách Nhà nước
Việc cắt giảm thuế nhập khẩu theo các cam kết gia nhập WTO sẽ làm ảnh hưởng trực tiếp tới nguồn thu ngân sách nhà nước (NSNN). Tuy nhiên thực hiện cam kết này về trung hạn và dài hạn sẽ không có nhiều khả năng gây tác động tiêu cực cho nguồn thu ngân sách. Kim ngạch nhập khẩu thực tế chịu ảnh hưởng của việc cắt giảm thuế chỉ chiếm khoảng 20% tổng kim ngạch nhập khẩu hàng năm. Bên cạnh đó nếu tính tác động giảm thuế dẫn đến tăng kim ngạch thương mại nói chung dẫn đến tăng thu thuế nhập khẩu thì tác động tổng cộng của việc giảm thuế của hội nhập kinh tế quốc tế đến tổng thu NSNN sẽ thấp. Theo ước tính sơ bộ, tác động trực tiếp về cắt giảm thuế suất sẽ làm số thu giảm khoảng 10% tổng số thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu. Chưa kể đến triển vọng là khi thực hiện thành công các cam kết trong WTO, có thể tăng trưởng kinh tế, nguồn thu ngân sách sẽ tăng lên. Bảng 5 cho thấy nguồn thu từ hải quan vẫn đang tăng đều đặn qua các năm. Tính toán mới nhất cho các năm 2009 và 2010 cũng chỉ ra rằng nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu (trong đó thuế nhập khẩu chiếm chủ yếu) không giảm do cắt giảm thuế suất mà vẫn tăng do lượng hàng hóa nhập khẩu tăng nhiều hơn trước. Tỷ trọng thu thuế từ hoạt động xuất nhập khẩu  so với tổng ngân sách tăng trong giai đoạn 2006-2009, năm 2010 có giảm chủ yếu vì chúng ta tiếp tục thực hiện lộ trình giảm thuế suất nhập khẩu và Nhà nước có nhiều nguồn thu thuế khác ngoài hoạt động XNK.
Bảng 5: Thu ngân sách Nhà nước và nguồn thu từ thuế xuất nhập khẩu (đơn vị: tỷ đồng)
2006 2007 2008 2009 2010
Tổng thu Ngân sách Nhà nước 237.900 281.900 323.000 389.900 461.500
Thu từ cân đối ngân sách hoạt động XNK 40.000 55.400 64.500 88.200 95.500
Thuế XK, NK, thuế TTĐB hàng nhập khẩu 22.000 23.800 26.200 56.600 66.500
Thuế GTGT hàng hoá nhập khẩu (thu cân đối ngân sách) 18.000 31.600 38.300 31.600 29.000
- Số thu thuế GTGT: 34.000 46.100 58.300 64.600 65.000
- Số hoàn thuế GTGT: -16.000 -14.500 -20.000 -33.000 -36.000
Tỷ trọng thu thuế hoạt động XNK so với tổng NS 16,81% 19,65% 19,97% 22,62% 20,69%


Nguồn: Tính toán từ “Dự toán cân đối Ngân sách Nhà nước” (2006-2010), Bộ Tài chính.


Tài liệu tham khảo:
Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị  phổ biến các cam kết của Việt Nam tháng 11, 2006.
Bộ Thương Mại, Các cam kết gia nhập tổ chức thương mại Thế giới của Việt Nam, 2007.
Bộ Tài chính, Dự toán cân đối Ngân sách Nhà nước các năm 2006-2010.
Bùi Trinh, Hiệu quả bảo hộ thực tế giảm nhanh, vì sao?

Website:
www.thesaigontimes.vn

Không có nhận xét nào:

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
BACK TO TOP