Quản lý nhập khẩu qua công cụ thuế quan tại Việt Nam (1)

(Trích từ bài tập nhóm môn Chính sách Kinh tế Đối ngoại)

Các cơ quan quản lý chính sách kinh tế đối ngoại của một quốc gia có nhiều công cụ và cách thức khác nhau để quản lý hoạt động nhập khẩu hàng hóa, trong số các công cụ thường được áp dụng  thì thuế nhập khẩu là hình thức quan trọng và phổ biến nhất đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.

Thuế nhập khẩu giúp các quốc gia quản lý các hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại; nâng cao hiệu quả của hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu; góp phần phát triển và bảo vệ sản xuất, hướng dẫn tiêu dùng trong nước và góp phần tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước.

Trong điều kiện hội nhập,  chính sách quản lý nhập khẩu qua thuế nhập khẩu của Việt Nam đã có những thay đổi cho phù hợp với cam kết khi thực hiện CEPT/AFTA và trở thành thành viên WTO. Một mặt chúng ta quản lý các mặt hàng nhập khẩu trên tiêu chí bảo vệ có mức độ cho các ngành sản xuất trong nước, ngăn ngừa nhập khẩu các mặt hàng không phù hợp đồng thời tăng thu cho ngân sách quốc gia. Mặt khác, chúng ta cũng cam kết cắt giảm thuế từng bước theo cam kết quốc tế đã ký.

Các cam kết về thuế nhập khẩu của Việt Nam trong quá trình hội nhập

Tổng hợp chung toàn bộ các cam kết về thuế quan của Việt Nam khi gia nhập WTO được thể hiện trong biểu cam kết về hàng hóa của Việt Nam, có thể  rút ra một vài nét lớn như sau:
Bảng 1: Diễn giải mức thuế cam kết bình quân (%)
Bình quân chung theo ngành
Thuế suất MFN (2006)
Thuế suất cam kết khi gia nhập WTO
Thuế suất cam kết vào cuối lộ trình
Mức giảm so với thuế MFN (2006)
Cam kết WTO của Trung Quốc
Sản phẩm NN
23,5
25,2
20,9
10,6
16,7
Sản phẩm CN
16,8
16,1
12,6
23,9
9,6
Chung toàn biểu
17,4
17,2
13,4
23,0
10,1
Nguồn: Báo cáo của Bộ Tài chính tại Hội nghị  phổ biến các can kết của Việt Nam tháng 11, 2006.

Theo hiệp định được ký kết, Việt Nam cam kết ràng buộc cho toàn bộ Biểu thuế (10.600 dòng). Mức thuế bình quân toàn biểu được giảm từ mức hiện hành 17,4% xuống còn 13,4%, thực hiện dần trong vòng 5 - 7 năm. Nhìn chung, có khoảng hơn 1/3 số dòng của biểu thuế sẽ phải cắt giảm, chủ yếu là các dòng có thuế trên 20%. Các mặt hàng trọng yếu, nhạy cảm đối với nền kinh tế như nông sản, xi măng, sắt thép, vật liệu xây dựng, ôtô, xe máy... vẫn duy trì được mức bảo hộ nhất định.

Việt Nam sẽ được áp dụng cơ chế hạn ngạch thuế quan đối với 4 mặt hàng gồm: trứng, đường, thuốc lá lá, muối. Đối với 4 mặt hàng này, mức thuế trong hạn ngạch là tương đương mức thuế MFN hiện hành (trứng: 40%, đường thô: 25%, đường tinh: 50-60%, thuốc lá lá: 30%, muối ăn: 30%), thấp hơn nhiều so với mức thuế ngoài hạn ngạch.

Bên cạnh đó, không mâu thuẫn với cam kết MFN, WTO cũng cho phép những ngoại trừ riêng áp dụng cho các thoả thuận tự do hoá khu vực. Đối với trường hợp của Việt Nam, đó là các thoả thuận về khu vực mậu dịch tự do ASEAN - AFTA, thoả thuận khu vực tự do ASEAN - Trung Quốc và giữa ASEAN với một số nước đối tác khác. Do vậy việc thực hiện các cam kết trong khuôn khổ tự do hoá khu vực của Việt Nam, cũng như các cam kết trong khuôn khổ WTO sẽ được thực hiện một cách độc lập và không bị ràng buộc lẫn nhau.

Các cam kết tự do khu vực Việt Nam đã và đang đàm phán:

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN (AFTA): theo những cam kết đã ký và được thực hiện từ năm 1996 thì các mặt hàng trong danh mục thông thường sẽ có thuế suất từ 0-5% vào năm 2013 và tiến tới xoá bỏ hoàn toàn các loại thuế nhập khẩu vào năm 2015.

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA): theo hiệp định đã ký thì lộ trình giảm thuế của Việt Nam sẽ là: Năm 2009: ít nhất 50% số dòng thuế thuộc danh mục thông thường có thuế suất 0-5%; Năm 2013: có ít nhất 45% số dòng thuế thuộc danh mục thông thường có thuế suất 0%; Năm 2015: (ngoại trừ một số dòng thuế được linh hoạt đến năm 2018) tất cả các dòng thuế thuộc danh mục thông thường có thuế suất là 0%.

Khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Hàn Quốc (AKFTA): Theo hiệp định đã ký thì lộ trình giảm thuế của Việt Nam như sau: ít nhất 50% mặt hàng trong danh mục thông thường có thuế suất 0-5% vào ngày 01/01/2013; Xoá bỏ thuế nhập khẩu của ít nhất 90% mặt hàng trong danh mục thông thường vào ngày 01/01/2015; Xoá bỏ thuế nhập khẩu của ít nhất 95% mặt hàng trong danh mục thông thường vào ngày 01/01/2016; Xoá bỏ thuế nhập khẩu của 100% mặt hàng trong danh mục thông thường vào ngày 01/01/2018.


..... (còn tiếp)

Không có nhận xét nào:

Lưu ý: Chỉ thành viên của blog này mới được đăng nhận xét.

Related Posts Plugin for WordPress, Blogger...
BACK TO TOP